Cổng thông tin điện tử
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
No data found

Tổ chức và hoạt động của Quốc hội từ khi đất nước thống nhất - Bài 2: Mười bài học kinh nghiệm

Sau thắng lợi hoàn toàn của công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 10 khóa Quốc hội, từ khóa VI đến khóa XV (1976 - 2026), đây là giai đoạn nhân dân ta bắt tay vào sự nghiệp xây dựng một xã hội mới theo Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

1. Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm chắc chắn thành công cho mọi hoạt động của Quốc hội

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là một tất yếu khách quan đã được hiến định. Điều 4 các Hiến pháp 1980, 1992 và 2013 đều quy định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đó cũng là yêu cầu thiết thân của Quốc hội để có thể đóng góp thành quả lớn nhất cho cách mạng. Nếu trong chiến tranh, sự lãnh đạo của Đảng tập trung vào chức năng  quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thì trong thời bình Đảng chú trọng lãnh đạo đối với tất cả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; trong đó chức năng giám sát được nâng lên một tầm cao mới nhằm xem xét, đánh giá đúng đắn việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Quốc hội đối với các lĩnh vực hành pháp, tư pháp và ngay cả đối với Quốc hội. Đảng lãnh đạo, trước hết là Đảng định ra đường lối cách mạng cho từng thời kỳ, trong 40 năm thời bình thì hoạch định đường lối đổi mới là vấn đề quan trọng hàng đầu. Việt Nam thành công và phát triển vì đường lối đổi mới đúng đắn. Trước tiên phải đổi mới nền kinh tế; khi nền kinh tế vững vàng, phát triển thì mới từng bước đổi mới hệ thống chính trị... Nhìn lại hệ thống pháp luật Việt Nam chúng ta dễ dàng nhận ra, tất cả các luật kinh tế đều được Quốc hội xây dựng, thông qua trong công cuộc đổi mới. Sự lãnh đạo của Đảng ngày càng cụ thể, rõ ràng, chi tiết và mục tiêu cần đạt đến. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu Quốc hội phải đổi mới tổ chức và hoạt động, trong đó lập pháp phải đạt mục tiêu Xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và ổn định. Và ngay bây giờ Quốc hội đang đổi mới tổ chức theo hướng tinh, gọn, nhẹ, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu thực hiện nghi thức chào cờ tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

Đảng lãnh đạo Quốc hội bao gồm cả hai mặt: lãnh đạo về nội dung gồm lãnh đạo lập hiến, lập pháp, lãnh đạo thực hiện giám sát tối cao và lãnh đạo quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; phương thức lãnh đạo gồm quy trình lãnh đạo, phương pháp lãnh đạo; lãnh đạo bằng nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo (ngay từ khi mới bắt đầu công cuộc đổi mới, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa VIII, ngày 17-6-1987, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đã chỉ rõ, “Tất cả những những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định về mặt nhà nước phải được đưa ra Quốc hội, Hội đồng Nhà nước thật sự bàn bạc dân chủ trước khi có nghị quyết chính thức, tuyệt đối không được đặt cơ quan dân cử trước những việc đã được quyết định rồi, chỉ còn một cách là thụ động biểu quyết thông qua [3]. Điều đó cắt nghĩa, vì sao hoạt động của Quốc hội nói chung, quyết nghị các vấn đề quan trọng nói riêng ngày càng chính xác và có chất lượng cao.

Nói tóm lại: Quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối của Đảng, vì lợi ích của Nhân dân là nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành có chất lượng nhiệm vụ được Hiến pháp quy định. Việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội là cơ sở quan trọng để góp phần quan trọng ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV

2. Dân chủ hóa, từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”. Quốc hội đã và đang mở rộng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội. Dân chủ đã được Quốc hội thể chế hóa ngay từ khi Quốc hội mới ra đời. Một trong 3 nguyên tắc của Hiến pháp năm 1946 là, “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ” và ngay Điều thứ nhất của Hiến pháp đã quy định, “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”. Ngày nay là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì tính chất dân chủ ngày càng được phát huy mạnh mẽ hơn. Trong các cuộc thảo luận của Quốc hội, tất cả các ý kiến khác nhau (thậm chí trái chiều) đều được trình bày công khai, minh bạch trước Quốc hội. Khuyến khích tranh luận và tranh luận lại, từ những ý kiến với các góc nhìn khác nhau mà tiếp cận toàn diện, sát với thực tiễn mà tìm ra phương án tối ưu cho mỗi vấn đề. Phát huy dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Quốc hội thảo luận tự do dân chủ nhưng phải tuân theo quy chế làm việc, tuân thủ Nội quy kỳ họp và theo sự điều hành của Chủ tọa. Bởi vậy mà dân chủ đi liền với kỷ luật, kỷ cương.

Quốc hội đã từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động của mình. Chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu: một là, đại biểu chuyên nghiệp (hoạt động chuyên trách); hai là, công việc của Quốc hội phải mang đầy đủ tính chất chuyên môn nghiệp vụ chuyên lĩnh vực. Trong đó yếu tố thứ hai đã được hiến định, “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp 2013). Có thể nói, từ khóa XI đến nay, chất lượng hoạt động của Quốc hội ngày càng được nâng cao, một trong những nguyên nhân là, số lượng, tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách các nhiệm kỳ tăng lên liên tục: Khóa XI có 119 đại biểu (23,90% so với tổng số đại biểu; khóa XII 144 đại biểu (29,21%); Khóa XIII 155 đại biểu (31,00%); khóa XIV 167 đại biểu (33,80%); khóa XV 193 đại biểu (38,7%), nay giảm đi 21 đại biểu trong tổng số nên tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách khóa XV là 40,37%. 

Dân chủ hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội là một trong các nhân tố quan trọng để sử dụng tối đa khả năng, năng lực của đại biểu, góp phần nâng cao chất lượng mọi mặt hoạt động của Quốc hội.

Đại biểu tham dự Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

3. Cơ cấu và chất lượng đại biểu quyết định quan trọng đến chất lượng hoạt động của Quốc hội

Quốc hội khóa đầu trong điều kiện Cách mạng mới thành công, trình độ dân trí chưa cao thì cơ cấu thành phần đại biểu có phần nặng về tính đại diện cho các tầng lớp dân cư, vùng miền, công nhân, nông dân, binh sĩ, miền ngược miền xuôi, dân tộc, tôn giáo... Cũng với cơ cấu đại diện đó nhưng các khóa càng về sau càng chú trọng nâng cao chất lượng đại biểu để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Đến các khóa thuộc thế kỷ XXI thì tuyệt đại bộ phận đại biểu có trình độ đại học và trên đại học (Khóa XI 93,37% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học; khóa XII 95,99%; khóa XIII 98,20%; Khóa XIV  98,78%; khóa XV 99,80%). Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, do đó bất kỳ vấn đề nào, các đại biểu cũng phải đóng góp ý kiến, phải có chính kiến, vì vậy đại biểu có học vấn cao, đồng đều cũng là một yêu cầu thực tế. Đi đôi với việc nâng cao trình độ, trí tuệ thì rèn luyện bản lĩnh cũng là một yêu cầu cao đối với đại biểu Quốc hội. Bản lĩnh, nói cho cùng, đó là “7 dám” mà Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã chỉ rõ: dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm;dám đổi mới sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung... 

Nói tóm lại: Lựa chọn, giới thiệu, bầu cử cho được những đại biểu có chất lượng; tiếp tục bồi dưỡng mở rộng kiến thức, nâng tầm trí tuệ; rèn luyện bản lĩnh - tài đức vẹn toàn là điều kiện trực tiếp để tổ chức và hoạt động của Quốc hội có hiệu lực và hiệu quả.

Các cơ quan của Quốc hội

4. Tổ chức bộ máy của Quốc hội hợp lý trong từng giai đoạn phù hợp với hoàn cảnh đất nước

Có thể nói, Quốc hội là cơ quan tiên phong trong việc tổ chức bộ máy tinh gọn theo phương châm: bộ máy gọn nhẹ, nhân lực tối thiểu, hiệu quả công việc tối đa.

Về tổ chức UBTVQH: 

Theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội qua các thời kỳ, ngoài các chức danh Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội thì Quốc hội còn có các chức danh: Ủy viên UBTVQH, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban. Vị thế và mức lương của Ủy viên UBTVQH cao hơn vị thế và mức lương của Chủ tịch HĐDT và Chủ nhiệm các Ủy ban. Về số lượng thành viên UBTVQH, trước đây có từ 23 đến 26 thành viên, nhưng từ khóa IX đến nay chỉ còn từ 13 đến 18 thành viên. Các thành viên UBTVQH lại kiêm luôn Chủ tịch HĐDT, Chủ nhiệm các Ủy ban. Như hiện nay là đã giảm thêm 12 nhân sự cấp cao (tương đương Bộ trưởng) mà khối lượng công việc được giải quyết rất lớn; mặt khác, giảm 12 nhân sự cấp cao nên đã tiết kiệm chi phí rất lớn cho nhà nước. 

Về các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của Quốc hội:

Trên thế giới có 3 mô hình tổ chức số lượng các cơ quan của Nghị viện/Quốc hội: một là, số lượng các cơ quan của Nghị viện nhiều hơn số bộ của Nội các/Chính phủ; hai là, ngang bằng số bộ của Nội các; ba là, ít hơn số bộ của Nội các. Quốc hội Việt Nam thuộc mô hình thứ ba (từ khóa XII đến đầu khóa XV Quốc hội có 10 cơ quan so với 22 bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; hiện tại cuối khóa XV chỉ còn 8 cơ quan so với 17 bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ). Vấn đề đáng lưu ý là: Quốc hội có tổ chức ra bao nhiêu cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ thì cũng không làm tăng biên chế, vì thành viên các cơ quan của Quốc hội phải là đại biểu Quốc hội, mà số lượng đại biểu mỗi nhiệm kỳ là “cố định” hoặc có thể giảm (do có đại biểu bị miễn nhiệm, bãi nhiệm), chứ không bao giờ tăng. Việc tăng thêm số cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của Quốc hội chỉ có ý nghĩa là chuyên môn hóa sâu hơn theo lĩnh vực để thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ của Quốc hội mà thôi. Đặc điểm riêng có của Quốc hội là, đại biểu Quốc hội nói chung, nhân sự trong bộ máy Quốc hội nói riêng, hoạt động theo nhiệm kỳ, cứ 5 năm lại thay đổi nên không có việc giảm biên chế đại biểu Quốc hội.

Nói tóm lại, tổ chức bộ máy của Quốc hội trước hết phải phù hợp với cấu trúc bộ máy chung của Nhà nước; tiếp đó là phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cùng khối lượng công việc cụ thể của Quốc hội trong từng thời kỳ; và phải luôn luôn tuân thủ phương châm tinh, gọn, hiệu lực và hiệu quả. 

 

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp xúc cử tri thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang trước Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV

5. Hoạt động của Quốc hội phải bảo đảm mối liên hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân, lấy dân làm gốc

Suy cho cùng, mọi hoạt động của Quốc hội đều nhằm giải quyết công việc của dân, phục vụ nhân dân. “Quy trình” tiến hành công việc là từ ý kiến, kiến nghị của dân gửi đến Quốc hội; Quốc hội phân loại, sắp xếp theo thời gian, xử lý xong (xây dựng thành luật, pháp lệnh; giám sát giải quyết sự việc; quyết định xong) thì những vấn đề đó trở lại với dân để thực thi trong thực tiễn. Riêng pháp luật còn là “công cụ”, “thước đo” cho quản lý nhà nước.

Trong các nhiệm kỳ Quốc hội ở thế kỷ XXI, trước mỗi kỳ họp, Quốc hội thường tiếp nhận được từ 1.200 đến 1.500 ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước được tập hợp từ các Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương, cá biệt, có kỳ họp số ý kiến, kiến nghị nhận được lên đến hơn hai nghìn. Gần đây nhất, cử tri có ý kiến, kiến nghị nhiều về đất đai, về thuế; Quốc hội đã lập chương trình, khẩn trương nghiên cứu, xem xét thông qua Luật đất đai (mới) và  nhiều luật và các sắc thuế (khẩn trương đến mức phải tổ chức kỳ họp bất thường để hoàn thành công việc đúng thời hạn).

Với ý nghĩa và thực tiễn đó, không có kinh nghiệm nào tốt bằng kinh nghiệm thực thi nghiêm chỉnh, triệt để quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, “Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri...”. Tất cả các đại biểu Quốc hội có thường xuyên tiếp xúc cử tri, dành nhiều thời gian làm việc ở nơi cử tri bầu ra mình thì mới có đầy đủ tình hình cuộc sống thực tiễn để đem đến nghị trường những chất liệu tươi mới, thiết thực giúp ích cho Quốc hội. Đó chính là việc đưa ý chí, trí tuệ, nguyện vọng của Nhân dân đến diễn đàn Quốc hội, kết tinh vào các quyết sách của Quốc hội về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước đối với Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Phiên thảo luận chung Đại hội đồng lần thứ 150 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-150)

6. Trong thời kỳ đất nước hòa nhập khu vực, hội nhập quốc tế sâu rộng thì phát huy thế mạnh của hoạt động đối ngoại là một lợi thế góp phần đem lại hiệu quả cao cho mọi hoạt động của Quốc hội

Từ khi đất nước thống nhất đến nay, hoạt đông đối ngoại của Quốc hội nằm trong tổng thể công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, được mở rộng và phát triển qua từng nhiệm kỳ. Đặc biệt là 5 khóa Quốc hội của thế kỷ XXI các Đoàn cấp cao Quốc hội Việt Nam đã đi thăm, làm việc với Nghị viện/Quốc hội ở hầu khắp các châu lục; hội đàm trực tuyến với Nghị viện một số nước; hội kiến trực tiếp với Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Quốc hội/Nghị viện nhiều nước anh em, bạn bè từ các châu lục cũng tới thăm, làm việc với Quốc hội Việt Nam. Cả hoạt động song phương và hoạt động đa phương, tất cả đều góp phần nâng cao Uy tín của Quốc hội và vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế. Qua hoạt động đối ngoại, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chọn lọc, tiếp thu được những kinh nghiệm quý báu của Nghị viện/Quốc hội các nước, nhất là về kỹ thuật lập pháp, giám sát và kỹ năng tổ chức các hội nghị quốc tế. Các Đoàn cấp cao Nghị viện/Quốc hội các nước đã đánh giá cao tổ chức và kết quả hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Trong đó phải kể đến đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khi ngài thăm và làm việc với Quốc hội Việt Nam khóa XV vào tháng 10-2022, “Việt Nam là một tấm gương vô cùng đặc biệt. Tất cả những nỗ lực mà Việt Nam đã thể hiện trong thời gian qua là một sự đột phá. Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào vì tiếng nói của các bạn được tất cả các quốc gia tôn trọng. Các bạn là tấm gương về sự thống nhất để mang lại lợi ích cho người dân”. [4]

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã từng bước làm tốt nhiệm vụ mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định, Quốc hội Việt Nam đã có quan hệ với hơn 150 Nghị viện/Quốc hội các nước trên thế giới và là thành viên của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Hội đồng  Nghị viện châu Á (APA) và nhiều tổ chức khác...

7. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội với các cơ quan hữu quan trong hoạt động của Quốc hội

Trong tất cả các kỳ họp, nhất là kỳ họp cuối năm, các cơ quan nhà nước (Chính phủ, các bộ ngành, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều có phần việc trong Chương trình làm việc của Quốc hội. Các cơ quan khác, tùy nội dung kỳ họp mà có những phần việc rất quan trọng (xây dựng bộ máy nhà nước, công tác nhân sự, chuẩn bị bầu cử đại biểu dân cử...). Tất cả các nội dung đó có hoàn thành tốt đẹp thì chương trình kỳ họp mới hoàn tất, kỳ họp mới thành công mỹ mãn. Nội dung phối hợp công tác đã được quy định trong Hiến pháp, pháp luật và quy chế làm việc.

Thực thi nghiêm túc sự phối hợp giữa các cơ quan theo luật định, sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất, cùng chung ý chí giữa Quốc hội với các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn bó chặt chẽ với nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, to lớn, là nhân tố, là một trong các điều kiện quan trọng để Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV

8. Nhiệm kỳ sau kế thừa thành tựu của các nhiệm kỳ trước

Sự hình thành và phát triển của Quốc là một quá trình liên tục trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, có sự kế thừa và không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Quốc hội từ khóa VI đến khóa XV, về mặt cơ cấu tổ chức đã trải qua các mô hình khác nhau: UBTVQH khóa VI có tới 24 thành viên, trong đó có 2 thành viên dự khuyết; hầu như tất cả đều hoạt động kiêm nhiệm. Hai khóa VII và VIII, bộ máy nhà nước lại tổ chức theo mô hình Hội đồng Nhà nước (không có UBTVQH); Khóa XI, UBTVQH chỉ có 13 thành viên, các khóa sau đó là 17, 18 thành viên và tất cả đều hoạt động chuyên trách. Số lượng các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của Quốc hội cũng trải qua 3 mô hình (6 cơ quan, 8 cơ quan và 10 cơ quan)... Về khối lượng công việc thì ngày càng lớn. Về phương thức làm việc, tính dân chủ càng về sau càng được phát huy; từ chỗ chủ yếu là tỏ rõ chính kiến đến chỗ thảo luận kỹ lưỡng từng vấn đề, đến tranh luận và tranh luận lại, tìm ra phương án tối ưu cho mỗi vấn đề.

Song, kinh nghiệm đáng quan tâm là, kết quả và kinh nghiệm thực tiễn hoạt động của khóa trước luôn luôn là bài học quý báu cho việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của khóa sau. Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Quốc hội phải được tiến hành chặt chẽ, đồng bộ từ thử nghiệm đến đổi mới căn bản. Đổi mới phải có định hướng, mục tiêu, có bước đi vững chắc và đem lại hiệu quả thiết thực.

Tòa Nhà Quốc hội Việt Nam

9. Về tổ chức cơ quan phục vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội

Văn phòng Quốc hội (VPQH) đã trải qua 4 danh xưng: Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội (1946-1960); Văn phòng UBTVQH (1960-1981); Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước (1981-1992); VPQH (1992 đến nay). VPQH là cơ quan hành chính nhà nước, không có nhiệm kỳ như Quốc hội.

Trong thời kỳ chiến tranh (1946-1976), cơ quan phục vụ Quốc hội có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ về hành chính, quản trị. Từ nhiệm kỳ khóa VI (1976 - 1981) đến nay nhiệm vụ phục vụ chủ yếu là chuyên môn, nghiệp vụ. Khối lượng công việc này ngày càng lớn và là công việc trọng tâm của VPQH.

Các tính chất hoạt động của Quốc hội có liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của VPQH và cũng chính là những kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của VPQH trong công cuộc đổi mới:

1- Hoạt động của Quốc hội là những hoạt động bao quát hoạt động của toàn xã hội (kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, môi trường, đối ngoại...) bởi vậy VPQH phải có đâỳ đủ tổ chức, bộ máy, cán bộ để phục hoạt động của Quốc hội.

2- Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra, giám sát các hoạt động của hành pháp và tư pháp nên trình độ của cán bộ VPQH ở các lĩnh vực tương ứng phải sắc sảo, ít nhất là cao hơn một tầm so với cán bộ hành pháp, tư pháp thì việc phục vụ giám sát, thẩm tra mới đạt hiệu quả mong muốn.  

3- Tổ chức bộ máy làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ của VPQH phải tinh, gọn, có sức mạnh đa năng mới đáp ứng được yêu cầu công việc. Lãnh đạo các cấp phải giỏi cả chuyên môn, nghiệp vụ, giỏi cả tổ chức công việc và chỉ đạo điều hành tác nghiệp. Cán bộ, chuyên viên phải giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ. Tất cả đều phải nhiệt huyết với công việc.

4- Khối lượng công việc đồ sộ, mỗi công việc đều có độ phức tạp cao, tính cấp bách luôn thường trực... đòi hỏi toàn đội ngũ với tinh thần sẵn sàng làm việc trong mọi điều kiện.

5- Thật sự đoàn kết, quân, cán một lòng trên cơ sở thực thi tốt nhất nhiệm vụ chinh trị của toàn cơ quan.

Toàn cảnh bên trong Phòng họp Diên Hồng

10. Điều kiện phương tiện làm việc của Quốc hội phải ngày càng được cải thiện theo trình độ kinh tế, tài chính của đất nước

Có 2 điều kiện vật chất quan trọng nhất: 

1- Ngân sách hoạt động của Quốc hội: Phân chia một cách tương đối theo lát cắt thời gian, thì từ nhiệm kỳ khóa IX trở về trước, đại biểu Quốc hội chủ yếu là hoạt động kiêm nhiệm, nên hàng năm chỉ dự toán ngân sách chi tiêu cho các kỳ họp. Khóa IX cũng là nhiệm kỳ bắt đầu có nhiều đại biểu hoạt động chuyên trách, trước hết là hầu hết các thành viên UBTVQH và một số Phó Chủ tịch HĐDT, Phó Chủ nhiệm một số Ủy ban. Từ khóa X đến nay, Quốc hội mới chính thức có ngân sách riêng để hoạt động. Kinh nghiêm cũng đơn giản là, Ngân sách được cân đối đầy đủ thì mọi hoạt động được cũng được tiến hành đầy đủ và ngày càng sâu rộng, kể cả việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các Nghị viện/Quốc hội các nước trên thế giới.

2- Điều kiện vật chất kỹ thuật: Trước kia cả nước chỉ có một hội trường lớn - Hội trường Ba Đình. Các cuộc hội họp chung toàn quốc của các ngành, lĩnh vực đều sử dụng chung hội trường này; Quốc hội chưa có trụ sở riêng. Trên thế giới, Tòa Nghị viện/Quốc hội được coi là chốn uy nghiêm - nơi làm việc của cơ quan quyền lực cao nhất... Tòa nhà Quốc hội Việt Nam hiện nay được khởi công vào tháng 9/2009, đưa vào sử dụng tháng 10/2014 (kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII). Bên cạnh chất lượng hoạt động hiệu quả của Quốc hội thì bản thân Tòa nhà Quốc hội cũng góp phần làm tôn nghiêm vị thế của Quốc hội. 

Cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiến bộ của công nghệ thông tin và điều kiện ngân sách cho phép, các đại biểu các khóa gần đây được cung cấp máy tính, các phương tiện thông tin điện tử chung và riêng, phương tiện làm việc được đổi mới... nên công việc của Quốc hội được xử lý nhanh chóng, chính xác, hiệu quả hơn so với nhiều khóa trước. Bài học kinh nghiệm ở đây như một phương trình. Nếu yếu tố con người như nhau thì “Nâng cao hiệu quả công tác bằng (=) nâng cao trình độ trang thiết bị làm việc tân tiến”. Rõ ràng rằng, chủ động đầy đủ về ngân sách, hiện đại hóa phương tiện làm việc có vai trò to lớn trong việc đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội và của đại biểu Quốc hội.

10 nhiệm kỳ, 40 năm, Quốc hội có rất nhiều bài học kinh nghiệm, nhân dịp này cần được tổng kết đúc rút kỹ lưỡng hơn để các khóa Quốc hội nối tiếp tham khảo, học tập và phát triển trên một cấp độ cao hơn, hiện đại hơn trong kỷ nguyên mới.


Chú thích:

[3] Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 48 (1987), trang 181, NXB CTQG, H. 2.006.

[4] Báo Đại Biểu Nhân Dân số 1,2,3 tháng 1-2023, bài Ngoại giao Nghị viện 2022.

TS. Bùi Ngọc Thanh, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Comments

Bài viết cùng chuyên mục