.jpg)
Tại phiên thảo luận, các ý kiến của đại biểu đều không nhìn văn hóa như một lĩnh vực tách biệt, càng không chỉ xem đó là phần việc “giữ gìn” cho có, mà đều tiếp cận theo hướng coi văn hóa gắn chặt với cộng đồng, với sinh kế, với giáo dục, với du lịch, với công nghiệp sáng tạo và với năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính từ cách nhìn ấy, những đề xuất đều tập trung vào một hướng: muốn bảo tồn được văn hóa thì phải giữ được môi trường thực hành văn hóa; muốn phát huy được giá trị văn hóa thì phải để văn hóa bước ra khỏi không gian trưng bày, đi vào đời sống, vào thị trường, vào không gian số, vào trường học, vào sinh kế của người dân.
Bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số: Không chỉ giữ di sản mà phải giữ chủ thể văn hóa
Thảo luận về vấn đề bảo tồn văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đại biểu Hoàng Ngọc Định, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang cho rằng, Nghị quyết không nên chỉ dừng ở chuyện đầu tư thiết chế hay bố trí nguồn lực theo nghĩa vật chất, bởi “vấn đề đặt ra hiện nay không phải là thiếu thiết chế mà là cơ chế để các thiết chế đó vận hành hiệu quả, có hoạt động thực chất và gắn với cộng đồng”. Theo Đại biểu, lâu nay ở nhiều nơi, nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng, không gian biểu diễn đã được đầu tư nhưng lại thiếu người tổ chức, thiếu nội dung hoạt động, thiếu cơ chế quản lý phù hợp, dẫn đến tình trạng có công trình nhưng không có sức sống. Nói cách khác, thiếu không phải là “vỏ”, mà thiếu “hồn” vận hành.
.jpg)
Từ thực tế đó, Đại biểu đề nghị phải làm rõ hơn cơ chế hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian truyền thống ngay tại cộng đồng; đồng thời xác lập rõ vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở như không gian sinh hoạt, thực hành và truyền dạy văn hóa. Đây là một đề xuất rất đáng lưu ý. Bởi nếu thiết chế văn hóa không trở thành nơi người dân đến để hát, diễn, kể chuyện, truyền nghề, tập luyện, sinh hoạt lễ tục, thì thiết chế ấy khó có thể được coi là công cụ bảo tồn văn hóa đúng nghĩa.
Cùng hướng tiếp cận đó, Đại biểu Nàng Xô Vi, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum phân tích sâu hơn ở khía cạnh các dân tộc thiểu số rất ít người. Theo Đại biểu, các cộng đồng dân tộc có quy mô dân số rất nhỏ như Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu, Si La, nếu không có nguồn lực riêng, ổn định và dài hạn, thì nguy cơ mất bản sắc là hoàn toàn hiện hữu. Chính vì vậy, Đại biểu đề xuất không nên áp dụng cùng một mức độ hỗ trợ cho mọi nhóm chủ thể văn hóa, bởi có những nhóm đang ở tình trạng báo động cao, nơi mà số người biết thực hành di sản chỉ còn vài người, số nghệ nhân am hiểu sâu đã bước vào tuổi cao, và nếu chậm một bước thì việc phục hồi sau đó có thể không còn khả thi.
.jpg)
Đại biểu cũng nhấn mạnh vấn đề không chỉ là bảo tồn văn hóa mà còn là bảo tồn chính chủ thể văn hóa. Khi nghệ nhân không có lương, không có bảo hiểm, khi thế hệ thanh niên kế cận không nhìn thấy nguồn sinh kế tương lai thì việc truyền dạy văn hóa truyền thống là rất khó. Trong khi đó, các chương trình bảo tồn hiện nay vẫn nặng tính “dự án hóa”, thiếu sự tham gia tự nhiên và bền vững của cộng đồng, khiến nguy cơ mai một là điều rất khó tránh. Từ đó, Đại biểu đề nghị cần có trợ cấp thường xuyên, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hỗ trợ truyền dạy có trả công, cũng như chính sách đào tạo lớp kế cận là thanh niên người dân tộc thiểu số để tránh đứt gãy thế hệ văn hóa.
Đồng tình với ý kiến trên, Đại biểu Y Bhen Kđoh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk cũng cho rằng, không thể yêu cầu nghệ nhân giữ lửa văn hóa bằng tinh thần tự nguyện mãi mãi trong khi đời sống của họ bấp bênh, thiếu tư liệu sản xuất, thiếu thu nhập ổn định. Chính sách đãi ngộ vì thế không thể chỉ là những khoản hỗ trợ tượng trưng, mà phải đủ để nghệ nhân có điều kiện sống, có điều kiện truyền dạy, có động lực gắn bó với vai trò chủ thể sáng tạo văn hóa.
.jpg)
Cho ý kiến vào nội dung này, Đại biểu Dương Mạc Kiên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng đặt ra vấn đề về nguyên tắc phát triển văn hóa và cơ chế hưởng lợi của cộng đồng. Theo Đại biểu, dự thảo còn thiếu một nền nguyên tắc đủ rõ, như nguyên tắc cộng đồng là chủ thể văn hóa, bảo tồn đi trước khai thác đối với di sản, và phát triển bao trùm ưu tiên vùng khó khăn. Điều quan trọng hơn là dự thảo chưa nêu rõ cộng đồng được hưởng lợi bằng cơ chế nào, tỷ lệ tái đầu tư cho cộng đồng từ khai thác di sản là bao nhiêu, nghệ nhân và người nắm giữ tri thức bản địa được hỗ trợ trực tiếp ra sao. Đại biểu cũng nhấn mạnh, nếu bảo tồn và khai thác di sản chỉ tạo ra lợi ích cho đơn vị tổ chức, cho doanh nghiệp hay cho ngân sách chung mà cộng đồng chủ thể không được hưởng phần lợi ích xứng đáng, thì về lâu dài động lực giữ gìn di sản trong dân sẽ suy giảm.
.jpg)
Từ các ý kiến trên, có thể thấy một thông điệp nổi lên rất rõ: bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số không thể tiếp tục là công việc của hồ sơ, đề án hay những lần “trình diễn” theo mùa vụ, mà phải là chính sách giữ người, giữ làng bản, giữ ngôn ngữ, giữ môi trường thực hành, giữ sinh kế gắn với văn hóa. Chỉ khi người dân thấy rằng gìn giữ văn hóa cũng là gìn giữ tương lai của cộng đồng mình, lúc đó bảo tồn mới thực sự bền vững.
Bảo tồn văn hóa dân gian: Cần nhìn nhận thực trạng đứt gãy truyền dạy và lực lượng công chúng kế cận
Nếu ở vùng dân tộc thiểu số, vấn đề cốt lõi là giữ được chủ thể văn hóa, thì ở bình diện văn hóa dân gian nói chung, thách thức nổi bật mà nhiều đại biểu chỉ ra là nguy cơ đứt gãy truyền dạy và sự xa cách ngày càng lớn giữa di sản với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Đây là một thực tế không dễ giải quyết bằng đầu tư cơ sở vật chất thuần túy.
Đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp bày tỏ lo ngại về tình trạng bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc còn rất hình thức. Đại biểu nhấn mạnh thực trạng hiện nay là nói rất nhiều về bảo tồn nhưng thực tế chưa thực chất; có những người trong cộng đồng thậm chí không biết tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Ý kiến này rất đáng suy ngẫm, vì nó cho thấy giữa chính sách và kết quả cuối cùng vẫn còn một khoảng trống lớn. Nếu sau một thời gian triển khai mà sản phẩm đầu ra không thể đo đếm, không thể kiểm chứng bằng việc cộng đồng có thêm bao nhiêu người biết chữ, biết tiếng, biết hát, biết diễn, biết thực hành di sản, thì chính sách dễ rơi vào tình trạng đúng về mặt khẩu hiệu nhưng mờ nhạt về hiệu quả.
.jpg)
Trong khi đó, Đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long nhìn vấn đề ở cấp độ phương pháp tiếp cận. Đại biểu đánh giá việc chuyển từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động” là một bước tiến bộ lớn, song cảnh báo rằng nếu không xác lập tiêu chí rõ ràng thế nào là giá trị văn hóa có nguy cơ mai một thì nguồn lực rất dễ bị dàn trải. Văn hóa là một lĩnh vực rộng, nhu cầu bảo tồn ở địa phương nào cũng có, loại hình nào cũng có lý do để đề xuất hỗ trợ. Nhưng nếu không có hệ tiêu chí phân loại mức độ khẩn cấp, giá trị đặc thù, khả năng phục hồi, sức sống cộng đồng, thì nguồn lực sẽ bị chia mỏng, nơi cần cứu gấp lại chưa chắc được ưu tiên, còn nơi có thể xã hội hóa tốt lại vẫn tiếp tục trông chờ vào ngân sách.
.jpg)
Bên cạnh đó, Đại biểu Thạch Phước Bình cũng chỉ ra một điểm nghẽn khác là nghệ thuật truyền thống hiện nay không chỉ thiếu kinh phí, mà thiếu công chúng kế cận. Một loại hình văn hóa, dù được bảo trợ tốt đến đâu, nếu không còn người nghe, người xem, người thực hành tiếp nối thì khó có thể có sức sống lâu dài. Từ đây, Đại biểu đề xuất đưa nghệ thuật truyền thống vào trường học, vào không gian trải nghiệm, vào các hoạt động giáo dục văn hóa thường xuyên, để thế hệ trẻ được tiếp xúc tự nhiên, đều đặn, không mang tính phong trào với nghệ thuật truyền thống, từ đó mới có cơ hội hình thành nhu cầu thưởng thức, lòng tự hào và ý thức kế thừa.
Cho ý kiến vào công tác bảo tồn di sản văn hóa, Đại biểu Trần Thị Vân, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh chỉ ra hạn chế lớn của cách làm lâu nay là công tác bảo tồn ở nước ta vẫn chủ yếu theo hướng lưu giữ, phục dựng, bảo vệ nguyên trạng di sản, tức là bảo tồn tĩnh. Cách làm này có thể giúp gìn giữ bản sắc, nhưng lại dễ đẩy văn hóa ra khỏi đời sống đương đại, khiến văn hóa khó tiếp cận công chúng, nhất là giới trẻ, đồng thời thiếu cơ chế chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế. Đại biểu nhấn mạnh: “Một di sản nếu chỉ còn được nhắc đến trong hồ sơ, trong bảo tàng, trong các dịp kỷ niệm hay trong một vài chương trình biểu diễn chính thức, thì nó đã bắt đầu rời xa môi trường sống tự nhiên của nó”.
.jpg)
Từ ý kiến trên Đại biểu Trần Thị Vân đề xuất hướng giải quyết cụ thể: các chất liệu văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành đầu vào cho các sản phẩm công nghiệp sáng tạo hiện đại. Nói cách khác, bảo tồn văn hóa dân gian hôm nay không thể chỉ đặt trên vai ngành văn hóa theo nghĩa hẹp, mà phải gắn với giáo dục, truyền thông, công nghiệp sáng tạo và hệ sinh thái tiêu dùng văn hóa mới.
Số hóa di sản: Không còn là việc nên làm mà là việc phải làm
Cho ý kiến vào nội dung số hóa di sản, Đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn Đại biểu Quốc hộ tỉnh Vĩnh Long nhìn công nghệ số như một công cụ bảo tồn quan trọng đối với nhiều di sản có nguy cơ mất đi không thể phục hồi. Theo Đại biểu, số hóa bằng công nghệ 3D, thực tế ảo, tư liệu số không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là cách lưu giữ ký ức văn hóa cho các thế hệ sau, đồng thời mở ra khả năng tiếp cận mới cho công chúng trẻ. Điều này đặc biệt đúng với các loại hình văn hóa đang suy giảm nhanh về chủ thể thực hành hoặc đang đứng trước nguy cơ biến mất do biến động xã hội, môi trường và lối sống. Khi một nghi lễ, một làn điệu, một không gian kiến trúc, một hiện vật quý được số hóa bài bản, ít nhất chúng ta còn giữ được lớp dữ liệu nền cho việc nghiên cứu, phục dựng, quảng bá và giáo dục sau này.
.jpg)
Đại biểu Trần Thị Vân, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh cũng đề nghị, xác định chuyển đổi số tại điều 10 trong dự thảo Nghị quyết là “cột trung tâm”. Đại biểu đặt ra hàng loạt câu hỏi rất đáng suy nghĩ: “Bao giờ di sản Việt Nam mới được số hóa; bao giờ có nền tảng số quốc gia để phân phối nội dung văn hóa; bao giờ xây dựng xong bộ tiêu chí quốc gia về văn hóa; sau 5 năm, 10 năm thì văn hóa đóng góp được bao nhiêu cho GDP?”. Những câu hỏi ấy không chỉ thể hiện sự trăn trở vì chính sách, mà còn cho thấy một yêu cầu rất quan trọng: Văn hóa muốn trở thành một ngành phát triển thì phải có mục tiêu định lượng, có lộ trình, có chỉ số đo lường, có hạ tầng số, chứ không thể chỉ dừng ở định hướng khái quát.

Ở góc độ thể chế, Đại biểu Dương Mạc Kiên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng đề xuất cần bổ sung bộ chỉ tiêu giám sát, chỉ số quốc gia về văn hóa và một đề án riêng về số hóa văn hóa. Đây là góp ý rất cần thiết, bởi trong quản trị hiện đại, cái gì không đo được thì rất khó quản được. Nếu không có bộ chỉ tiêu theo dõi, thì rất khó biết địa phương nào làm tốt, mô hình nào hiệu quả, loại hình nào đang suy giảm, mức độ tiếp cận của công chúng đến đâu, hay hiệu quả đầu tư của ngân sách đã tạo ra thay đổi thực chất thế nào.
Trong khi đó, Đại biểu Y Bhen Kđoh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk lại nhấn mạnh một khía cạnh khác của chuyển đổi số là bảo vệ bản quyền trên môi trường số. Đây là vấn đề rất đáng chú ý, bởi nếu văn hóa bước lên không gian số mà không có cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đủ hiệu quả, thì chính những người sáng tạo, những chủ thể nắm giữ di sản, những đơn vị đầu tư sản phẩm văn hóa sẽ mất động lực. Khi ấy, số hóa có thể giúp lan tỏa nhưng lại không giúp tạo ra chuỗi giá trị kinh tế bền vững. Vì vậy, số hóa di sản và phát triển công nghiệp văn hóa số phải đi cùng với hạ tầng pháp lý và kỹ thuật về bản quyền, truy xuất, quản lý khai thác dữ liệu và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Nhìn từ câu chuyện hồi hương cổ vật, Đại biểu Thích Đức Thiện, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Điện Biên cũng cho rằng, điều quan trọng không kém là sau khi cổ vật trở về, phải có chiến lược phát huy giá trị của chúng trong giáo dục, trưng bày, nghiên cứu, du lịch và truyền thông văn hóa. Bảo vật quốc gia không nên chỉ trở thành vật phẩm lưu trữ, mà cần được kể lại bằng các ngôn ngữ hiện đại, bằng công nghệ số, bằng không gian trải nghiệm mới để công chúng, nhất là giới trẻ, hiểu được giá trị lịch sử và văn hóa của từng hiện vật.

Từ các phân tích trên, có thể thấy số hóa di sản hôm nay không còn là việc “có điều kiện thì làm”, mà là việc bắt buộc phải làm nếu muốn văn hóa Việt Nam không tụt hậu trong không gian cạnh tranh mới. Số hóa cũng không chỉ để “lưu giữ”, mà để kết nối di sản với công chúng, với giáo dục, với du lịch, với công nghiệp sáng tạo và với thế giới.
Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh ghi nhận và tiếp thu tối đa các ý kiến sâu sắc, tâm huyết của đại biểu Quốc hội, đặc biệt tập trung vào các vấn đề lớn.

Thứ nhất, về bảo tồn văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và văn hóa dân gian, Bộ trưởng cho biết, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu theo hướng nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng, coi bảo tồn phải gắn với môi trường thực hành văn hóa và sinh kế của người dân. Dự thảo đã được chỉnh lý để bổ sung các cơ chế hỗ trợ truyền dạy, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ngay tại cộng đồng, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, người nắm giữ tri thức dân gian, bảo đảm tính kế thừa liên tục giữa các thế hệ.
Thứ hai, về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, Bộ trưởng khẳng định đây là nội dung trọng tâm đã được tiếp thu và cụ thể hóa trong dự thảo nghị quyết. Theo đó, sẽ từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa, đẩy mạnh số hóa di sản, đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo vệ bản quyền trên môi trường số, tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới. Bộ trưởng nhấn mạnh, các ý kiến của đại biểu sẽ tiếp tục được nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ trong quá trình hoàn thiện dự thảo cũng như trong tổ chức triển khai, bảo đảm nghị quyết khi ban hành có tính khả thi cao và thực sự đi vào cuộc sống./.