Cổng thông tin điện tử
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tạo đột phá pháp lý và vốn trong giao đất, giao rừng, tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 9/12, Thường trực Hội đồng Dân tộc tổ chức họp làm việc với các Bộ, ngành liên quan để xin ý kiến về dự thảo Báo cáo kết quả khảo sát “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng, bảo vệ, phát triển rừng gắn với tạo sinh kế ổn định, nâng cao đời sống cộng đồng dân cư và hộ gia đình ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2019-2023". Các Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành và Quàng Văn Hương đồng chủ trì cuộc làm việc.

Cùng dự có đại diện các Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Ngân hàng chính sách xã hội.

Quang cảnh buổi làm việc

Báo cáo khảo sát của Hội đồng Dân tộc chỉ rõ vướng mắc trong chính sách lâm nghiệp, đất đai, tín dụng đến mô hình phát triển dược liệu, đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) là khu vực chiến lược, chiếm đến 65,5% tổng diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 78,3% và đất rừng chiếm 78,6%. Đây là nơi sinh sống của 83,1% tổng số dân DTTS của cả nước, nhưng cũng là nơi tập trung 70,6% tổng số hộ nghèo và cận nghèo toàn quốc, với tỷ lệ nghèo/cận nghèo cao hơn 2,2 lần so với mức bình quân chung của cả nước.

Trước tầm quan trọng đặc biệt của khu vực này, Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội đã tiến hành khảo sát về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng, bảo vệ, phát triển rừng gắn với tạo sinh kế ổn định, nâng cao đời sống cộng đồng dân cư và hộ gia đình ở vùng DTTS&MN giai đoạn 2019-2023 (gọi tắt là chính sách GĐ-GR, BV&PTR gắn với sinh kế). Báo cáo khảo sát đã đưa ra cái nhìn toàn diện về những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những "điểm nghẽn" pháp lý và thực tiễn, từ đó kiến nghị những giải pháp đột phá, thiết thực, nhằm thực sự đưa rừng trở thành sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc.

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành phát biểu

Thống nhất văn bản và những "lỗ hổng" chính sách cần khắc phục

Giai đoạn 2019-2023, công tác GĐ-GR, cho thuê rừng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) theo Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đất đai 2013 đã được các tỉnh triển khai đồng bộ. Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách rộng khắp đã tạo sự đồng thuận trong nhân dân, làm cơ sở quan trọng cho việc tổ chức giao rừng. Kết quả đáng khích lệ là diện tích rừng có chủ quản lý đã được mở rộng, tạo nền tảng quan trọng cho công tác quản lý, BV&PTR bền vững. Phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho các chủ thể sử dụng, bao gồm ban quản lý rừng, tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân và cộng đồng dân cư. Đặc biệt, các diện tích lâm nghiệp của doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển sang hình thức thuê đất theo quy định. Công tác giao rừng đã tạo chuyển biến rõ rệt, giúp rừng có chủ thực sự, tạo niềm tin cho người dân yên tâm đầu tư BV&PTR.

Trên cơ sở nhiệm vụ được Trung ương giao, các địa phương đã ban hành 287 lượt văn bản để tạo sự thống nhất, đồng bộ và kịp thời triển khai các chính sách. Nhiều tỉnh đã có những điểm sáng trong thực hiện, đơn cử như Lạng Sơn đã hoàn thành công tác đo đạc, lập hồ sơ và phê duyệt phương án sử dụng đất sau thu hồi. Có 24/28 tỉnh đã triển khai việc cấp Giấy CNQSDĐ. Sau GĐ-GR, nhiều tỉnh cho thấy diện tích rừng có chủ quản lý, ý thức trách nhiệm được nâng cao, tình trạng phá rừng giảm rõ rệt, lấn chiếm được kiểm soát.

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương phát biểu

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chính sách đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập và "điểm nghẽn" pháp lý, gây khó khăn cho người dân và địa phương. Đơn cử như vướng mắc trong hỗ trợ trồng rừng theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP, quy định chính sách hỗ trợ trồng rừng “chỉ một lần cho chu kỳ đầu” bị đánh giá là không còn phù hợp với thực tế. Nhiều đất đã được giao từ nhiều năm trước, người dân đã trồng rừng qua nhiều chu kỳ. Do đó, quy định này khiến nhiều hộ và doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách hỗ trợ (như tại Tuyên Quang, Lào Cai). Chính sách trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy cho hộ nghèo chưa tự túc lương thực nhưng lại chưa làm rõ khái niệm “hộ nghèo chưa tự túc lương thực”, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Tồn tại vấn đề pháp lý về đối tượng được giao, Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đất đai 2024 chưa đồng bộ trong việc giao rừng cho cộng đồng, dẫn đến nhiều nơi phải thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp trước đó. Ngoài ra, lực lượng chuyên trách lâm nghiệp còn thiếu nhiều, năng lực cán bộ cơ sở và nắm bắt địa bàn còn yếu, năng lực tham mưu hạn chế. Ý thức, trách nhiệm của người dân và chủ rừng còn chưa cao.

Các đại biểu tham dự cuộc làm việc

Tại cuộc làm việc, một số Bộ, ngành thống nhất về nhu cầu hoàn thiện khung pháp lý, đề nghị rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản hướng dẫn Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai 2024 theo hướng thống nhất, đồng bộ, đặc biệt về giao đất, giao rừng cho cộng đồng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết về cơ bản, các kiến nghị của địa phương về sửa đổi, bổ sung Luật Lâm nghiệp và các văn bản dưới luật đã được xử lý tại các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong năm 2024 và 2025. Đồng thời cần có chính sách quản lý đất đai từ nông, lâm trường bàn giao; hỗ trợ đo đạc, cấp Giấy CNQSDĐ và xử lý tranh chấp.

Giải quyết khó khăn về hình thức tổ chức sản xuất, đất đai và vốn

Các đại biểu cho rằng, công tác GĐ-GR đã giúp người dân, chủ rừng có cơ sở pháp lý, yên tâm mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế rừng. Nhiều địa phương đã huy động được cộng đồng tham gia tích cực, hình thành phong trào tự quản lý bền vững. Trong giai đoạn 2019-2023, hoạt động tín dụng chính sách xã hội (TDCSXH) của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã góp phần tích cực trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách BV&PTR. Nguồn vốn TDCSXH đã được chú trọng cho phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, bao gồm cả việc tham gia các chính sách liên quan đến phát triển vùng trồng dược liệu quý là một hoạt động hỗ trợ và nhân rộng mô hình kinh tế dưới tán rừng.

Các đại biểu tham dự cuộc làm việc

Về tổng hợp kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách, hình thức tổ chức sản xuất và liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trên diện tích đất, rừng được giao khoán, báo cáo dự thảo cho thấy cần bổ sung thông tin chi tiết, đặc biệt trong lĩnh vực dược liệu. Cho ý kiến về vấn đề này, Bộ Y tế đề nghị làm rõ thông tin về mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng trong Báo cáo khảo sát, bao gồm: quy mô, diện tích nuôi trồng, loại dược liệu, sản lượng thu hoạch, để có cơ sở nhân rộng mô hình kinh tế này. Bộ Y tế cũng yêu cầu bổ sung chi tiết về Liên kết sản xuất – tiêu thụ lâm sản, dược liệu, lâm sản ngoài gỗ thành chuỗi khép kín từ vùng trồng đến sơ chế, chế biến, đóng gói và bán ra thị trường. Đặc biệt, Bộ Y tế kiến nghị bổ sung danh mục tổng hợp các dược liệu do các địa phương đề xuất phù hợp, nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế chính sách chung về đầu tư, phát triển vùng nuôi trồng, khai thác dược liệu trên toàn quốc.

Ngoài những khó khăn chung đã được nhận diện, Ngân hàng chính sách xã hội chỉ ra một "điểm nghẽn" lớn đang cản trở người dân DTTS tiếp cận chính sách và vốn. Theo đó, báo cáo phản ánh tình trạng số liệu không thống nhất giữa các ngành, các cấp và nhiều hộ dân được giao rừng/đất nhưng chưa có giấy tờ đầy đủ. Việc thiếu Giấy CNQSDĐ là rào cản pháp lý lớn, dẫn đến khó khăn trong thụ hưởng chính sách và tiếp cận vốn tín dụng.

Bên cạnh các nhóm giải pháp đã có, HĐDT và các Bộ, ngành đã đề xuất các giải pháp bổ sung thiết thực, khả thi để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hiệu quả chính sách.

Bà Nguyễn Thị Hải Nhung, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam phát biểu

Về vốn và tín dụng, Ngân hàng Chính sách xã hội đề nghị cho phép sử dụng biên bản giao đất, giao rừng hoặc xác nhận của UBND xã làm căn cứ vay vốn đối với các hộ chưa có, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp với thực tế báo cáo phản ánh. Điều này giúp mở rộng tiếp cận tín dụng cho người dân vùng nông thôn, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào DTTS. Kiến nghị xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung giữa ngành nông nghiệp – tài nguyên môi trường để xác định đúng đối tượng vay vốn, phục vụ cho quản lý nguồn vốn CTMTQG. Đồng thời, ưu tiên bố trí và cấp đủ nguồn vốn tín dụng chính sách từ ngân sách nhà nước trong kế hoạch đầu tư công trung hạn (2026-2030, 2031-2035) và hằng năm.

Về sinh kế và hỗ trợ phát triển, các đại biểu cho rằng cần mở rộng chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế gắn với rừng cho hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; đa dạng hóa mô hình, trong đó hỗ trợ mô hình VACR (Vườn – Ao – Chuồng – Rừng), du lịch sinh thái, phát triển dược liệu. Đồng thời, gắn hỗ trợ rừng với xóa đói giảm nghèo; điều chỉnh lãi suất, mở rộng, nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách. Ngoài ra, rà soát lại các diện tích đất, rừng truyền thống của cộng đồng dân cư vùng DTTS&MN gắn với các hoạt động tín ngưỡng, văn hóa; quan tâm hỗ trợ phục dựng các lễ, hội gắn với bảo vệ rừng và tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hành.

Các đại biểu tham dự cuộc làm việc

Phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành nhằm tăng cường thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, phát triển sinh kế rừng

Cung cấp thêm thông tin về việc ưu tiên phân bổ vốn đối với các địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn, Bộ Tài chính cho biết, với nguồn kinh phí được phân bổ từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để thực hiện chi trả cho cung ứng dịch vụ môi trường rừng, Bộ đã ưu tiên phân bổ kinh phí (sự nghiệp môi trường) cho các địa phương có diện tích rừng lớn: Dành 25% phân bổ cho yếu tố tác động từ rừng tự nhiên bảo đảm môi trường thiên nhiên theo diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn từng địa phương…; Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khó khăn hoặc có dân số thấp (chủ yếu là các địa phương có rừng, vùng đồng bào DTTS&MN), được phân bổ thêm theo tỷ lệ phần trăm (%) số chi tính theo định mức dân số.

Về phân bổ các nguồn kinh phí thực hiện về lâm nghiệp vào đầu năm để địa phương chủ động, triển khai thực hiện, Bộ Tài chính bố trí tăng nguồn lực cho địa phương để triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, các chính sách phát triển lâm nghiệp; ưu tiên nguồn kinh phí cho việc đào tạo nguồn nhân lực về lâm nghiệp và nghiên cứu, ứng dụng các đề tài khoa học công nghệ cho miền núi phù hợp với thực tế.

Ở góc độ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, đã và đang xử lý hầu hết các kiến nghị của địa phương về sửa đổi, bổ sung Luật Lâm nghiệp và các văn bản dưới luật.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị phát biểu

Trong khi đó, Bộ Y tế nhấn mạnh nhu cầu làm rõ và bổ sung thông tin chi tiết về các mô hình phát triển dược liệu dưới tán rừng và chuỗi liên kết giá trị để làm cơ sở nhân rộng và xây dựng chính sách đầu tư chung.

Các đại biểu nhấn mạnh, báo cáo kết quả khảo sát của Hội đồng Dân tộc đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn, cung cấp bức tranh chi tiết, đa chiều về tình hình thực hiện chính sách GĐ-GR, BV&PTR gắn với sinh kế ở vùng DTTS&MN giai đoạn 2019-2023. Những "điểm nghẽn" pháp lý về sự chưa đồng bộ giữa một số Luật liên quan, sự thiếu nhất quán trong số liệu giữa các ngành, các cấp và rào cản về giấy tờ đất đai đối với việc tiếp cận tín dụng chính sách đã được chỉ rõ.

Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ NN&MT) Trần Quang Bảo phát biểu

Các ý kiến góp ý thẳng thắn, sâu sắc từ các Bộ, ngành sẽ là cơ sở quan trọng để HĐDT hoàn thiện Báo cáo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội với mục tiêu cuối cùng là kiến nghị những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm phát triển kinh tế rừng gắn với cải thiện, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần, đảm bảo sinh kế ổn định, bền vững cho hàng triệu đồng bào DTTS.

Nguyễn Hùng, Hà Lan / quochoi.vn
Bình luận

Bài viết cùng chuyên mục