
Tham gia thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết, đồng thời đánh giá cao nỗ lực của cơ quan soạn thảo trong thời gian chuẩn bị ngắn. Đại biểu Vừ A Bằng (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) cho rằng chủ trương phát triển văn hóa Việt Nam đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, song dự thảo hiện đưa ra nhiều định hướng, chính sách lớn nhưng chưa thể hiện đầy đủ đánh giá tác động chính sách cũng như dự kiến nguồn lực thực hiện, vì vậy cần tiếp tục làm rõ hơn tính hiệu quả và khả năng triển khai trong thực tế. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cũng nhấn mạnh dự thảo cần sớm thể chế hóa những mục tiêu lớn về đầu tư cho văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chủ thể thụ hưởng
Một trong những nhóm vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là việc xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chủ thể được hưởng chính sách. Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cho rằng cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa Nghị quyết với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên khi áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài; đồng thời cần bổ sung định nghĩa cụ thể về “tham gia phát triển văn hóa Việt Nam” để tránh bỏ sót hoặc xác định không thống nhất đối tượng thụ hưởng ưu đãi trong quá trình triển khai.
Cùng quan điểm, đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị phải tiếp tục khoanh định rõ hơn các nhóm lĩnh vực, phạm vi, ngành nghề thuộc đối tượng điều chỉnh, bởi nếu quy định quá rộng sẽ dễ dẫn tới việc áp dụng chính sách ưu đãi thiếu công bằng giữa các loại hình hoạt động kinh doanh, nhất là trong bối cảnh ranh giới giữa hoạt động văn hóa truyền thống, du lịch, công nghiệp giải trí và dịch vụ ngày càng có nhiều điểm giao thoa.

Đại biểu Trần Đình Gia (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị bổ sung thêm “gia đình và dòng họ” vào nhóm chủ thể áp dụng của Nghị quyết để bảo đảm bao quát đầy đủ các lực lượng đang trực tiếp nắm giữ, lưu truyền và bảo tồn di sản văn hóa. Theo đại biểu, thực tiễn ở Hà Tĩnh cho thấy nhiều di sản có giá trị đã được gia đình, dòng họ gìn giữ rất tốt, vì vậy cần có cơ chế huy động và ghi nhận đầy đủ các chủ thể này trong chính sách phát triển văn hóa. Còn đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cho rằng khoản quy định về đối tượng áp dụng cần được diễn đạt lại theo hướng logic, mạch lạc hơn để thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Nhiều góp ý về Ngày Văn hóa Việt Nam và chính sách hưởng thụ văn hóa của người dân
Liên quan đến quy định về Ngày Văn hóa Việt Nam, các ý kiến tại tổ cơ bản đồng tình với chủ trương lựa chọn ngày 24/11 hằng năm. Đại biểu Vừ A Bằng (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) và đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cùng cho rằng cách diễn đạt tại khoản 3 Điều 2 cần chỉnh lý theo hướng khuyến khích toàn dân tham gia hoạt động văn hóa, trong đó đặc biệt quan tâm thanh niên, thiếu niên, thay vì diễn đạt theo cách có thể khiến phạm vi đối tượng bị thu hẹp.
.jpg)
Bên cạnh đó, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) đánh giá đây là một chính sách nhân văn, có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho người dân hưởng thụ văn hóa. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần tính tới việc sửa đổi, bổ sung tương ứng trong Bộ luật Lao động để bảo đảm đồng bộ về số ngày nghỉ lễ hưởng lương trong năm. Đồng thời, cần quy định rõ mức miễn, giảm phí tối thiểu tại các thiết chế văn hóa, thể thao công lập để bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện; nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ cụ thể hơn đối với thanh thiếu niên như voucher văn hóa hoặc các chương trình trải nghiệm miễn phí cho học sinh, sinh viên trong dịp này.
Quan tâm đến bố trí nguồn lực, xã hội hóa và cơ chế vận hành thiết chế văn hóa
Về nguồn lực phát triển văn hóa, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) bày tỏ đồng tình cao với chủ trương dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, song đề nghị quy định rõ hơn nguyên tắc phân bổ trong mức chi này để tránh tình trạng nguồn lực dồn chủ yếu vào đầu tư hạ tầng vật chất mà chưa quan tâm tương xứng đến hoạt động sáng tạo, nội dung và phát triển nhân lực. Đại biểu cũng đề nghị xác định rõ chu kỳ xem xét tăng dần mức chi và gắn cơ chế xã hội hóa với các chính sách ưu đãi cụ thể tại những điều khoản liên quan, tránh quy định chỉ dừng ở tính chất kêu gọi, khuyến khích chung chung.

Đại biểu Vừ A Bằng (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) cũng băn khoăn về tính khả thi của nhiều chính sách do dự thảo chưa lượng hóa đầy đủ nguồn lực thực hiện. Trong khi đó, đại biểu Trần Đình Gia (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị mở rộng hơn cơ chế xã hội hóa trong quản lý, vận hành thiết chế văn hóa, thể thao, cho phép Ủy ban nhân dân các cấp thí điểm giao cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, dòng họ hoặc tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý thông qua cơ chế đấu thầu, khoán chỉ tiêu hiệu quả hoặc hợp tác công tư để nâng cao hiệu quả khai thác thiết chế.
.jpg)
Ở góc độ khác, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cho rằng nội dung giao tổ chức tự quản của cộng đồng quản lý, vận hành thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở là vấn đề cần được bố trí vào điều khoản phù hợp hơn, bởi nếu đặt trong điều quy định về thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa thì chưa thật sự hợp lý về mặt cấu trúc và logic chính sách.
Đề nghị hoàn thiện quy định về đô thị di sản, công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản và chuyển đổi số
Đối với mô hình đô thị di sản, đại biểu Vừ A Bằng (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) đề nghị bổ sung khái niệm, tiêu chí lựa chọn địa phương thí điểm và nguyên tắc áp dụng cơ chế ưu đãi để có căn cứ triển khai thực hiện, đánh giá kết quả và cân đối nguồn lực. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cũng cho rằng cần làm rõ thẩm quyền giữa chính quyền địa phương và Chính phủ trong quy định liên quan đến mô hình này, tránh mâu thuẫn giữa các khoản trong cùng một điều của dự thảo.

Về bảo tồn di sản và bảo vật quốc gia, đại biểu Vừ A Bằng đề nghị sắp xếp lại các quy định liên quan đến ưu đãi đối với tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa, bảo vật quốc gia và cổ vật quý hiếm để bảo đảm tính logic, tập trung, thống nhất trong bố cục dự thảo. Đại biểu Trần Đình Gia thì nhấn mạnh yêu cầu tạo cơ chế linh hoạt hơn cho các dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển không gian văn hóa, du lịch, dịch vụ phù hợp thực tiễn.
Liên quan đến phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đề nghị cần chú trọng hơn đến việc xây dựng hệ sinh thái thị trường văn hóa lành mạnh, minh bạch; tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa xây dựng thương hiệu để vươn ra thị trường quốc tế; đồng thời phải có cơ chế kiểm soát phù hợp để vừa phát triển thị trường vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh thương mại hóa quá mức. Đại biểu cũng đề nghị bổ sung chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ, nhất là trong các lĩnh vực mới của công nghiệp văn hóa như thiết kế, nội dung số.

Đối với quảng bá, xúc tiến sản phẩm công nghiệp văn hóa, một số đại biểu lưu ý cần thu hẹp, xác định rõ phạm vi chi phí được hoàn trả cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng bối cảnh Việt Nam sản xuất phim; làm rõ tiêu chí, điều kiện, mức hoàn trả và cơ chế kiểm tra, giám sát để tránh phát sinh vướng mắc, thất thoát hoặc trục lợi chính sách. Về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, đại biểu này cũng đề nghị cân nhắc lại sự cần thiết tiếp tục “thí điểm” các mô hình như bảo tàng số, thư viện số khi một số nội dung đã được quy định trong luật và có thực tiễn triển khai.
Cân nhắc mô hình quỹ và bảo đảm thống nhất tên gọi, tính chất của nghị quyết
Cũng tại buổi thảo luận tổ, một số ý kiến cũng đề cập tới yêu cầu hoàn thiện thiết kế chính sách ở cấp độ tổng thể. Đồng thời đề nghị cân nhắc việc thành lập Quỹ Văn hóa và nghệ thuật, bởi thực tế hiện nay nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách còn bộc lộ hạn chế trong công tác quản lý, vận hành và hiệu quả sử dụng vốn. Trong khi đó, cũng có ý kiến lưu ý tên gọi của nghị quyết cũng cần phản ánh đúng tính chất điều chỉnh; nếu trong dự thảo vẫn tồn tại một số chính sách mang tính “thí điểm”, “thử nghiệm” thì nên tiếp tục cân nhắc cách đặt tên cho phù hợp, bảo đảm thống nhất giữa tên gọi và nội dung điều chỉnh.