Tạo cơ chế giao cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thẩm quyền quy định, quyết định những vấn đề mang tính vượt trội, khác luật
Trong phiên thảo luận tại Tổ 1 - Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội sáng 20/4 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam, các đại biểu thống nhất đánh giá dự thảo Nghị quyết đã cho thấy bước chuyển quan trọng trong tư duy làm chính sách, từ chỗ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực cần được quan tâm sang xác lập văn hóa như là một lĩnh vực cần có cơ chế đặc thù, cần có nguồn lực đặc thù và cần có cách tiếp cận phát triển đặc thù, nhất là cơ chế chính sách về tài chính.


Đại biểu nêu dẫn chứng, trong quá trình phát triển vừa qua, chúng ta đã dành rất nhiều nguồn lực cho giao thông, quảng trường, công viên, trường học, bệnh viện, nhà ga, sân vận động, trụ sở, khu đô thị và các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Tuy nhiên, quá trình đầu tư mới chỉ chú trọng đến công năng xây dựng mà chưa quan tâm đúng mức đến chiều sâu văn hóa và thẩm mỹ của các không gian công cộng. Nhiều công trình có thể lớn, hiện đại, quy mô nhưng chưa tạo được dấu ấn thẩm mỹ, chưa truyền tải được tinh thần của công trình, chưa góp phần nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ của người dân và chưa mở ra nhiều cơ hội cho nghệ sĩ tham gia sáng tạo ngay trong quá trình kiến tạo diện mạo đô thị, diện mạo nông thôn và diện mạo đất nước.

Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia và nhiều thành phố trên thế giới đã đi trước Việt Nam khá xa ở điểm này. Tại Pháp, chính sách 1% cho nghệ thuật quy định chủ đầu tư công dành 1% chi phí xây dựng để đặt hàng hoặc mua một hay nhiều tác phẩm nghệ thuật được thiết kế riêng cho công trình công cộng. Bộ Văn hóa Pháp cũng xác định đây là một thủ tục đặt hàng nghệ thuật gắn với công trình công. Tại New York cũng có chương trình yêu cầu 1% ngân sách của các dự án xây dựng đủ điều kiện do thành phố tài trợ phải được sử dụng cho tác phẩm nghệ thuật công cộng. Mục đích của chương trình là đưa nghệ sĩ vào ngay từ quá trình thiết kế để làm phong phú các công trình dân sự và cộng đồng. Singapore thì cũng có cơ chế khuyến khích tích hợp nghệ thuật và phát triển đô thị thông qua các ưu đãi quy hoạch, trong đó phần diện tích sàn thường cho tác phẩm nghệ thuật tích hợp có thể lên đến 1% trong hệ số sàn quy định của dự án.

Quy định cụ thể những hạng mục nào là chi cho văn hoá và gắn với sản phẩm đầu ra
Dẫn chứng thực tế trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm cũng như quyết toán hàng năm thì không nêu riêng mục chi cho văn hóa mà khoản chi này được lồng ghép trong nhiều mục chi khác của tất cả các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, đại biểu Nguyễn Phương Thuỷ đặt câu hỏi: nên hiểu như thế nào là 2% chi cho văn hóa và đề nghị phải cụ thể hoá “thế nào là chi cho văn hoá”, nếu không sẽ không có căn cứ để tính xem yêu cầu này có được đảm bảo hay không.
Liên quan đến các cơ chế chính sách về thu hút nguồn lực đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, dự thảo Nghị quyết đã đưa ra một số ưu đãi về thuế, khoa học công nghệ…, đại biểu cũng cho rằng quy định còn chung chung, chưa rõ ràng, cần rà soát kỹ về đối tượng và phạm vi để không ảnh hưởng đến cân đối chung về ngân sách.

Cũng liên quan đến quy định chi cho văn hóa là tối thiểu 2% tổng chi ngân sách, đại biểu Tạ Đình Thi đề nghị bổ sung nguyên tắc chi theo sản phẩm đầu ra, tức là không chỉ tăng phần trăm chi mà phải gắn với các chỉ số đo lường số lượng các sản phẩm công nghiệp văn hóa xuất khẩu hay số lượng tương tác với các di sản số hóa (bao gồm cả từ nước ngoài và di sản Việt Nam được số hóa để tiếp cận quốc tế.)

Bổ sung cơ chế hậu kiểm và cơ chế vượt trội để thu hút khu vực tư đầu tư cho văn hoá
Theo đại biểu Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm, việc ban hành Nghị quyết về cơ chế chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam là bước đi rất cần thiết trong bối cảnh chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành một nguồn lực nội sinh quan trọng và tăng trưởng. Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, văn hóa không giống các lĩnh vực kinh tế, nếu xã hội hóa thiếu kiểm soát có thể dẫn đến thương mại hóa quá mức, làm suy giảm giá trị văn hóa. Vì vậy đại biểu Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm đề nghị, cần có tiêu chí rõ ràng để phân định lĩnh vực nào có thể xã hội hóa sâu, lĩnh vực nào Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt là các di sản và thiết chế văn hóa lõi. Bên cạnh đó, những chính sách ưu đãi tài chính, trong đó có cơ chế miễn giảm thuế nhằm thu hút đầu tư vào công nghiệp văn hóa hiện mới chủ yếu tập trung vào ưu đãi đầu tư mà chưa gắn chặt với hiệu quả đầu tư nên có thể dẫn đến tình trạng lợi dụng chính sách. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế hậu kiểm gắn ưu đãi với các tiêu chí cụ thể như mức độ sáng tạo, tỉ lệ nội dung, việc đóng góp cho xuất khẩu văn hóa, từ đó bảo đảm chính sách đi đúng mục tiêu.
Đại biểu khẳng định, nếu được hoàn thiện theo đúng hướng, tập trung, có trọng tâm và kiểm soát tốt rủi ro, Nghị quyết có thể tạo ra bước chuyển quan trọng, đưa văn hóa từ vị trí lĩnh vực tiêu dùng ngân sách trở thành ngành tạo giá trị đóng góp cho tăng trưởng.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung phát biểu. Ảnh: Quang Khánh
Mặc dù dự thảo Nghị quyết đã có rất nhiều chính sách vượt trội, nhiều cơ chế chính sách ưu đãi nhằm thu hút cả khu vực công và khu vực tư vào phát triển văn hóa, tuy nhiên theo đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung, các quy định còn chưa thực sự rõ ràng. Thực tế ở khu vực tư cần cơ chế nhiều hơn là kinh phí khi tham gia thiết kế các chương trình nghệ thuật, các chương trình góp phần nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc… Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế đặc thù, vượt trội hơn nữa để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết.

Tạo cơ chế giao cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thẩm quyền quy định, quyết định những vấn đề mang tính vượt trội, những vấn đề khác luật
Giải đáp các vấn đề đại biểu Quốc hội đề cập tại phiên thảo luận ở Tổ 1, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết trong quá trình xây dựng, lấy ý kiến thẩm tra, thẩm định và lấy ý kiến về đóng góp xây dựng dự thảo Nghị quyết cũng như tại phiên thảo luận, cơ quan soạn thảo đã nhận được rất nhiều ý kiến góp ý, trong đó nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn về cơ chế chính sách được nêu trong dự thảo Nghị quyết đã đủ mạnh chưa, đã đủ đột phá để đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam hay chưa? Cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu tham khảo kỹ các quy định của Trung ương, nhất là những nội dung mang tính đột phá để đưa vào Nghị quyết, làm sao để lấp đầy những khoảng trống pháp lý. Về những cơ chế ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế, hợp tác công tư đã được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành nên không đưa vào nội dung dự thảo, vì vậy dẫn đến một số ý kiến nhận xét Nghị quyết quy định còn chung chung.

Bộ trưởng cho biết, cơ chế chính sách quan trọng nhất của nghị quyết này chính là giao cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thẩm quyền quy định, quyết định những vấn đề mang tính vượt trội, những vấn đề khác luật để tổ chức thực hiện những nội dung, nhiệm vụ về phát triển văn hóa và những nội dung có liên quan và Chính phủ chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Quy định này vừa bảo đảm giải quyết kịp thời những vấn đề mang tính thời sự, vừa tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đang đặt ra.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cũng cho biết trong lĩnh vực văn hóa hiện nay có rất nhiều lĩnh vực đang khó khăn như: vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống, chế độ đãi ngộ cho nghệ sĩ, phát triển công nghiệp văn hoá, đặt hàng và khoán chi trong văn hoá, cơ chế để sáng tạo các tác phẩm văn học nghệ thuật mang tính đỉnh cao, quỹ văn hoá... Đây là những vấn đề mà tới đây ngành văn hoá, thể thao và du lịch sẽ tập trung chú trọng trong quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động, trong đó rất cần cơ chế chính sách để thu hút nguồn lực cho phát triển văn hoá.
Về đề xuất quy định ngày 24/11 là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương, Bộ trưởng khẳng định sự cần thiết của ngày lễ này và cho rằng đây là dịp để tổ chức các hoạt động văn hóa, vừa nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về văn hoá, vừa là cơ hội để người dân thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hoá cũng như phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc./.
Thu Quỳnh