Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về hội nhập quốc tế trong tình hình mới
Chiều 6/8, tại Nhà Quốc hội, trong khuôn khổ Phiên chuyên đề thứ hai của Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát “Giám sát của Quốc hội để kiến tạo phát triển”, các đại biểu đã nghe Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, TS. Đặng Xuân Thanh trình bày tham luận “Hoàn thiện chính sách, pháp luật để triển khai thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương điều hành Phiên chuyên đề thứ hai của Diễn đàn
Trình bày tham luận, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam TS. Đặng Xuân Thanh nhấn mạnh, Nghị quyết 59 ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới được xem là một trong bốn trụ cột định hướng chiến lược cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong mục tiêu tổng quát Nghị quyết đã khẳng định: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ, toàn diện sâu rộng của hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần thiết thực xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vai trò vị thế và uy tín của đất nước, phấn đấu đến giữa thế kỷ 21 nước ta trở thành nước phát triển thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Những mục tiêu này đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu hoàn thiện chính sách pháp luật về hội nhập và các lĩnh vực chuyên ngành tương ứng có liên quan của nước ta.

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trình bày tham luận
Một số hạn chế, thách thức trong thực hiện chính sách và pháp luật về hội nhập quốc tế của Việt Nam
Phân tích và chỉ rõ một số hạn chế, thách thức hiện nay, TS. Đặng Xuân Thanh cho biết, trước bối cảnh mới ở trong nước và quốc tế cũng như yêu cầu và nhiệm vụ mới, chính sách pháp luật về hội nhập quốc tế của Việt Nam bộc lộ một số bất cập hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, Việt Nam đang thiếu một luật khung về hội nhập quốc tế đa ngành, chưa có một đạo luật tổng thể để điều chỉnh hội nhập quốc tế một cách toàn diện. Việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế còn hạn chế, đặc biệt là trong việc điều phối liên ngành, khó xử lý các vấn đề mang tính đa ngành, liên ngành. Chưa quy định thật rõ về trách nhiệm của các bộ, ngành trong tổ chức thực thi các cam kết đa ngành. Cơ chế giám sát việc thực thi các cam kết quốc tế còn thiếu chặt chẽ và thiếu sự giám sát tích cực từ phía xã hội và người dân.
Thứ hai, Việt Nam hiện đang có sự chậm trễ nhất định trong nội luật hóa một số cam kết quốc tế. Một số cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTP, EVFTA, trong công ước quốc tế về quyền con người… vẫn chưa được thể chế hóa kịp thời. Quy trình sửa luật vẫn còn kéo dài, chậm so với thời gian thực hiện các cam kết dẫn đến rủi ro vi phạm các cam kết này. Các Hiệp định thương mại thế hệ mới nêu trên mặc dù đã có hiệu lực từ lâu, nhưng nhiều nghĩa vụ về môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững… chưa được nội luật hóa đầy đủ.
Thứ ba, thiếu các chính sách đồng bộ giữa Trung ương và địa phương. Nhiều địa phương chưa lồng ghép hội nhập vào quy hoạch kế hoạch phát triển, nhất là ở trong một số các lĩnh vực như: Khoa học, công nghệ, giáo dục, môi trường, phát triển bền vững. Ngoài ra, năng lực hội nhập quốc tế, hiểu biết pháp luật của một số cán bộ địa phương còn có những hạn chế như: chưa được đào tạo về luật pháp quốc tế, về hoạt động đối ngoại, đàm phán thương mại để triển khai hiệu quả các hoạt động hội nhập.
Thứ tư, Việt Nam hiện đang thiếu cơ chế đánh giá tác động hậu kiểm và phản hồi, thiếu công cụ đo lường hiệu quả hội nhập. Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định đa phương, song phương cũng như có nhiều chương trình hợp tác phát triển; Tuy nhiên chưa có cơ chế cũng như phương pháp đánh giá tác động thực hiện các cam kết quốc tế. Việc đánh giá hiện vẫn nặng về tổng kết hành chính, thiếu các phân tích định lượng về hiệu quả tác động kinh tế xã hội, sự lan tỏa của các chính sách, mức độ hưởng lợi của các nhóm yếu thế, khả năng cải cách hệ thống pháp luật.

Các đại biểu tham gia Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát “Giám sát của Quốc hội để kiến tạo phát triển”
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện cũng đang thiếu cơ chế phản hồi chính sách từ các bên liên quan, thiếu cơ chế để các viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người dân tham gia vào quá trình xây dựng, giám sát, thực hiện các cam kết quốc tế. “Một trong những nguyên nhân sâu xa là do hệ thống dữ liệu phục vụ đánh giá chính sách còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa công khai. Việc lồng ghép các chỉ số theo dõi, đánh giá trong quá trình thực thi các cam kết quốc tế, đặc biệt là các chỉ số liên quan đến phát triển bền vững, năng lực thể chế… còn hạn chế. Trong đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cơ chế hậu kiểm và đối thoại chính sách đa bên chính là yếu tố cốt lõi giúp nâng cao hiệu lực thực thi và đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quá trình hội nhập”, TS. Đặng Xuân Thanh chỉ rõ.
Thứ năm, vẫn còn một số quy định pháp luật chưa tương thích với tiêu chuẩn quốc tế. Một số Luật như: Luật An ninh mạng, Luật Đầu tư, Luật Báo chí, Luật Dữ liệu cá nhân… còn một số quy định chưa tương thích với thông lệ quốc tế về tính minh bạch, cạnh tranh, quyền riêng tư... Ngoài ra còn nhiều vấn đề luật pháp của Việt Nam thiếu tương thích với công ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực lao động, quyền con người .. có thể khiến Việt Nam phải đối mặt với những nguy cơ xung đột pháp lý trong quá trình thực hiện các cam kết quốc tế.
07 Đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị
Nêu lên một số kiến nghị, đề xuất tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm triển khai có hiệu quả nghị quyết 59 của Bộ Chính trị, TS. Đặng Xuân Thanh cho rằng:
Thứ nhất, có thể nghiên cứu xây dựng một đạo luật khung về hội nhập quốc tế, trong đó quy định các nguyên tắc, phạm vi, cơ chế nội luật hóa, đánh giá tác động giám sát cam kết quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mà Việt Nam tham gia hội nhập. “Việc xây dựng một luật khung về hội nhập quốc tế sẽ giúp Việt Nam giải quyết được một số vấn đề bất cập hiện hành trong phân cấp, phân quyền phối hợp trong hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hợp tác hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện như tinh thần Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị đã đề ra”, TS. Đặng Xuân Thanh nhấn mạnh.

Các đại biểu tham gia Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát “Giám sát của Quốc hội để kiến tạo phát triển”
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành theo hướng tiêu chuẩn hóa, quốc tế hóa, ưu tiên các lĩnh vực có nhiều xung đột pháp lý như: lĩnh vực dữ liệu số và bảo vệ quyền riêng tư, lĩnh vực lao động việc làm bền vững, lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững, khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư và thương mại, hội nhập về văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng....
Thứ ba, cần nhận thức rõ các yêu cầu mới đặt ra đối với các lĩnh vực pháp luật quốc tế, phân tích các xu hướng phát triển của luật pháp quốc tế trong các lĩnh vực mới nổi trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các tình huống mới phát sinh trong quan hệ quốc tế, các vấn đề phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh toàn cầu, để từ đó xây dựng mới hoặc có các sửa đổi bổ sung trong các quy định pháp luật của Việt Nam.
Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa trung ương và địa phương. Rà soát phân công chức năng của các bộ, ngành trong thực hiện cam kết, thiết lập cơ chế liên ngành xử lý xung đột và những bất cập phát sinh trong hội nhập quốc tế. Việc phân cấp, phân quyền hợp lý cho các địa phương để chủ động hội nhập cũng là một giải pháp cần thiết. Cùng với đó là cần thiết lập cơ chế báo cáo hai chiều định kỳ giữa trung ương và địa phương về các vấn đề hội nhập.
Thứ năm, đẩy mạnh truyền thông pháp luật và hỗ trợ doanh nghiệp, phổ biến nội dung các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA), các thỏa thuận quốc tế, các cam kết quốc tế cho các doanh nghiệp và người dân. Hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hội nhập; Thiết lập các công cụ định lượng để theo dõi, đánh giá hiệu quả của quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 59 của Bộ Chính trị. Thực hiện định kỳ đánh giá tác động các chính sách pháp luật hội nhập quốc tế đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; Điều chỉnh chính sách kịp thời dựa trên kết quả theo dõi, đánh giá và tình hình thực tế, đảm bảo hiệu quả của quá trình hội nhập.
Thứ bảy, cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực để đảm bảo hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Cần có kế hoạch đưa các chuyên gia Việt Nam vào làm việc ở các tổ chức quốc tế. Đây chính là một trong những giải pháp đảm bảo các hội nhập thực chất, có hiệu quả và có chiều sâu.

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trình bày tham luận
Theo TS. Đặng Xuân Thanh, Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã xác lập rõ tư duy mới, cũng như định hướng lớn về hội nhập quốc tế của nước ta trong kỷ nguyên mới theo hướng đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả, mang tính kiến tạo, phát triển. Do đó, đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện quá trình hội nhập theo tinh thần Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị là hết sức cần thiết để đảm bảo Việt Nam có đủ năng lực tham gia sâu vào hội nhập quốc tế./.