
Đưa kinh tế chăm sóc thành trụ cột và tháo gỡ nút thắt thể chế trong bình đẳng giới
Cho ý kiến về tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, các đại biểu cơ bản đồng tình với báo cáo của Chính phủ. Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú – Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An nhận định, báo cáo đã nêu khá đầy đủ kết quả và cũng đã chỉ ra các nhóm hạn chế: một số chỉ tiêu chưa đạt hoặc chưa có số liệu đầy đủ; công tác thống kê, thông tin, báo cáo còn yếu; nguồn lực còn thấp; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa mạnh. Báo cáo cũng xác định các nguyên nhân như tác động kéo dài của COVID-19, biến đổi khí hậu, định kiến giới, bộ máy và nhân sự còn biến động, phối hợp liên ngành chưa chặt. Đại biểu cho rằng, đây là hướng nhận diện đúng. Tuy nhiên, phần hạn chế vẫn còn thiên về mô tả quản lý, chưa thật sự chạm tới các nút thắt thực tiễn mà phụ nữ và trẻ em gái đang gặp trong đời sống hàng ngày. Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung và làm sâu, thực chất hơn phần đánh giá hạn chế, nguyên nhân.

Đại biểu nhấn mạnh, thứ nhất, cần nhìn thẳng vào thay đổi thực chất trong thực hiện các mục tiêu. Báo cáo cho biết các chỉ tiêu của Chiến lược giai đoạn 2021–2025 đã đạt hoặc vượt, nhưng ngay trong phần tồn tại một số chỉ tiêu chưa phản ánh đúng thực chất vì dữ liệu còn thiếu, chưa đo được chất lượng thụ hưởng chính sách.
Thứ hai, cần rõ hơn tính chất bất bình đẳng chồng lấn giữa giới với dân tộc, vùng miền, khuyết tật, di cư và nghèo. Báo cáo có nhắc tới vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng nên bổ sung nhận định rằng cùng là phụ nữ nhưng mức độ bị bỏ lại phía sau là rất khác nhau. Những nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ di cư, phụ nữ làm việc phi chính thức chịu rủi ro kép hoặc rủi ro chồng lấn, nhất là trong tiếp cận việc làm tử tế, an sinh, trợ giúp pháp lý và bảo vệ khỏi bạo lực.
Thứ ba, phần hạn chế nên làm rõ hơn bất cập của hệ thống dữ liệu giới. Báo cáo đã nêu đúng việc số liệu còn tản mạn, một số chỉ tiêu chưa có cơ chế thu thập thống nhất. Trong bối cảnh hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu hiện nay, đây không còn là hạn chế kỹ thuật mà là hạn chế thể chế. Không có dữ liệu giới tin cậy, liên thông và cập nhật thì rất khó lập ngân sách đáp ứng giới, khó xác định nhóm ưu tiên, khó giám sát.

Bày tỏ đồng tình với định hướng của báo cáo về hoàn thiện pháp luật, tăng truyền thông, thanh tra, lồng ghép giới và nâng cao năng lực. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú nhấn mạnh cần cụ thể hóa bằng bộ chỉ số đầu ra và kết quả cho từng bộ, ngành, địa phương
Một là đầu tư cho kinh tế chăm sóc, coi đây là một trụ cột của bình đẳng giới và là hạ tầng xã hội thiết yếu. Không thể chỉ kêu gọi chia sẻ việc nhà mà phải đầu tư hạ tầng chăm sóc: nhà trẻ, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, dịch vụ cho người khuyết tật, công tác xã hội, tư vấn tâm lý, chăm sóc cộng đồng. Cần nghiên cứu đưa dịch vụ chăm sóc vào quy hoạch đô thị, nông thôn mới, chính sách việc làm và an sinh xã hội.

Hai là xây dựng hệ thống dữ liệu giới quốc gia đồng bộ, liên thông, tin cậy. Cần đặt mục tiêu cụ thể về dữ liệu giới trong giai đoạn 2026-2030: hoàn thành chuẩn hóa bộ chỉ tiêu, phân công đầu mối thu thập, liên thông dữ liệu giữa nội vụ, lao động - xã hội, y tế, giáo dục, khoa học và thống kê; ưu tiên dữ liệu tách biệt theo giới, tuổi, dân tộc, vùng miền, khuyết tật, tình trạng di cư.
Báo cáo nêu xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới, đại biểu đề nghị bổ sung lộ trình ứng dụng công nghệ số và nền tảng chia sẻ dữ liệu để khắc phục tình trạng mỗi nơi một mẫu, mỗi năm một kiểu.
Ba là công tác truyền thông và ứng dụng khoa học, công nghệ, cần được chú trọng, lựa chọn hình thức truyền thông phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và sử dụng tài liệu song ngữ của từng dân tộc.
Nâng cao năng lực và nguồn lực để hiện thực hóa các chỉ tiêu về bình đẳng giới
Cho ý kiến thảo luận tại Tổ, về tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, đại biểu Cil Bri – Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho rằng, công tác bình đẳng giới hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Theo đại biểu, bất bình đẳng giới vẫn còn hiện hữu, đặc biệt trong các lĩnh vực việc làm, thu nhập và sự tham gia vào lãnh đạo, quản lý. Định kiến giới và tư tưởng truyền thống còn phổ biến, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của phụ nữ.
Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở cơ sở còn hạn chế, nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới chủ yếu kiêm nhiệm nên chưa thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và triển khai chính sách.

Từ thực tiễn tại tỉnh Lâm Đồng, đại biểu cho biết ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận việc làm và các dịch vụ xã hội. Một số tập quán truyền thống và điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế tiếp tục là rào cản đối với phụ nữ và trẻ em gái. Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và khó khăn trong tiếp cận việc làm sau đào tạo vẫn là những vấn đề đáng quan tâm.
Công tác theo dõi, thống kê, tổng hợp số liệu về bình đẳng giới cũng chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; việc thu thập, phân tách, cập nhật dữ liệu còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu, chiến lược cũng như xây dựng giải pháp trong thời gian tới.

Từ đó, đại biểu đề nghị các Bộ, ngành Trung ương quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp, có tính đến yếu tố đặc thù của từng địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm điều kiện triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ về bình đẳng giới. Đồng thời, cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật thông qua tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu, cập nhật kiến thức và kỹ năng lồng ghép giới cho đội ngũ làm công tác này, qua đó nâng cao chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện.